Nguyễn Thị Kim Ngân » Bạn đọc » Không thể tùy tiện tăng học phí

(Bạn đọc) - Học phí đại học cần tăng khoảng 2,5 lần so với hiện nay, lên mức 2.100 USD/năm (gần bằng GDP đầu người của Việt Nam) để tăng suất đầu tư cho sinh viên. Đó là ý kiến được nêu lên tại Hội thảo Hoàn thiện chính sách, pháp luật về Tự chủ Đại học do Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng (Quốc hội) tổ chức hôm 25/12/2017. Cá nhân người viết cho rằng đề xuất này có nhiều điểm không ổn, chưa thể phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam và thậm chí có thể gây ra nhiều hệ lụy khôn lường nếu được Bộ Giáo dục và Chính phủ chấp thuận.

tang-hoc-phi

Nhiều lý giải mang tính chủ quan

Theo GS Phạm Phụ, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa TP. HCM, người đưa ra kiến nghị tăng học phí thì hiện nay mức đầu tư cho sinh viên ở Việt Nam quá thấp, chỉ đạt tầm 1.000 USD/năm, so với 22.000 USD ở Mỹ hay 7.000 USD ở Đài Loan, … Vì thế, ông cho rằng để có sự đầu tư tốt hơn thì cần làm tăng trách nhiệm của người học, cụ thể là thông qua việc tăng học phí.

GS Phạm Phụ, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa TP. HCM đề xuất tăng học phí lên 2,5 lần để nâng mức đầu tư cho mỗi sinh viên

GS Phạm Phụ, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa TP. HCM đề xuất tăng học phí lên 2,5 lần để nâng mức đầu tư cho mỗi sinh viên

Lập luận trên rất thiếu cơ sở vững chắc ở chỗ: hiếm quốc gia nào trên thế giới lại quy định mức học phí ngang bằng hay chiếm gần hết lợi tức (GDP) bình quân đầu người, mà thường phải đặt thấp hơn, để cho cá nhân người học còn đủ khả năng trang trải cho những khoản chi tiêu khác trong cuộc sống, dù họ có phải đi làm thêm hay hoàn toàn được gia đình đài thọ. Lấy ví dụ, mức học phí hiện nay đối với sinh viên Đài Loan dao động trong khoảng 3000 – 4000 USD/năm, so với GDP đầu người là 24.000 USD/năm (tính theo tỷ giá) hay 48.000 USD/năm (tính theo sức mua của đồng tiền), chỉ bằng một phần nhỏ so với thu nhập. Trong lúc đó, thu nhập của người Việt Nam vốn đã thấp nhưng các gia đình lại đang phải chi một tỷ lệ quá lớn trong đó cho việc học hành của con cái. Vì vậy, đề xuất tăng thêm học phí, thậm chí lên ngang bằng với mức GDP đầu người ở vào thời điểm này là không thích hợp.

Liên quan tới chuyện đảm bảo khả năng chi trả học phí, GS Phạm Phụ cũng nêu ý kiến cho rằng nên phát triển các nguồn quỹ giúp sinh viên vay vốn, kể cả nếu có phải mượn thêm nợ từ nước ngoài, vì hiện nay việc cho vay từ ngân sách có quy mô quá nhỏ, chỉ đủ trả học phí. Đề xuất này xem ra khó khả thi vì hiện trạng nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh và có xu hướng vượt quá khả năng kiểm soát, cho nên nếu vay thêm nợ thì có thể gây thêm nhiều gánh nặng cho nền kinh tế. Cũng như y tế, giáo dục cần thiết phải là lĩnh vực được xã hội hóa cao, chúng ta nên huy động và phát huy thêm nhiều nguồn lực trong xã hội thay vì chỉ phụ thuộc vào viện trợ hay nợ vay của nước ngoài. Chẳng hạn như, đã tới lúc nhà nước nên thôi cấm, cho phép các hội đoàn, tổ chức tôn giáo được tham gia mở trường, nhất là các trường đại học, giống như dưới thời Pháp hay ở miền Nam trước năm 1975.

ĐH Đà Lạt có tiền thân là Viện Đại học Đà Lạt ở miền Nam trước năm 1975, ngôi trường đại học duy nhất ở Việt Nam được xây dựng trên một khu đồi lớn (gần 40 ha) do Giáo hội Công giáo bảo trợ, là một đại học mẫu mực vào thời đó, thậm chí đã đạt đến đẳng cấp quốc tế. Chính quyền Sài Gòn dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bán khu đất này để xây trường với giá tượng trưng là 1 đồng bạc năm 1957

ĐH Đà Lạt có tiền thân là Viện Đại học Đà Lạt ở miền Nam trước năm 1975, ngôi trường đại học duy nhất ở Việt Nam được xây dựng trên một khu đồi lớn (gần 40 ha) do Giáo hội Công giáo bảo trợ, là một đại học mẫu mực vào thời đó, thậm chí đã đạt đến đẳng cấp quốc tế. Chính quyền Sài Gòn dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bán khu đất này để xây trường với giá tượng trưng là 1 đồng bạc năm 1957

Tại hội thảo vừa qua, cũng có nhiều kiến nghị khác xoay quanh vấn đề tự chủ tài chính trong trường đại học, nhắc tới sự bất cập trong quy định cho phép các trường được tự xây dựng cơ chế học phí song vẫn bị khống chế bởi mức trần, khiến các đại học chưa thực sự được tự chủ hoàn toàn. Quan điểm này cũng chưa thật sự thuyết phục, vì không thể đánh đồng tự chủ đại học với tự chủ tài chính, hay đúng hơn là việc tùy ý thu học phí. Tự chủ hay đúng hơn là tự trị đại học là cả một quá trình, đòi hỏi nhà nước dần từng bước thôi không còn can thiệp vào những hoạt động học thuật, nhân sự, tài chính, … và trao quyền tự quyết nhiều hơn cho các trường. Ở những nước có nền giáo dục phát triển, hầu hết các trường đại học đều có quy chế tự trị rất tốt, nhờ nhà nước ít can thiệp vào các hoạt động, đồng thời các trường có sự hợp tác rất tốt và nhận nhiều tài trợ từ các mạnh thường quân hay doanh nghiệp lớn trong xã hội. Ngoài ra, học phí cũng cần phải được căn cứ dựa trên mặt bằng giá cả và nhu cầu của thị trường.

Một vấn đề lớn nữa đối với nền giáo dục của Việt Nam hiện tại, đặc biệt hệ thống các trường đại học, đó là đang có quá nhiều nhân sự làm công tác quản lý (trị sự, tài chính, …) hơn là đội ngũ chuyên môn (giáo sư, giảng viên) làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, … mang tới những gánh nặng liên quan tới với đề lương thưởng và sự suy giảm chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Do đó, nếu chấp thuận cho tăng học phí chỉ vì để bù đắp phí tổn thì cũng không giúp được gì nhiều cho sứ mệnh cải cách giáo dục vốn đang cực kỳ cấp thiết.

Chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam đang rất kém. Tuy nhiên không thể cải cách và nâng cao chất lượng chỉ nhờ việc tăng học phí

Chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam đang rất kém. Tuy nhiên không thể cải cách và nâng cao chất lượng chỉ nhờ việc tăng học phí

Thay lời kết

Một thực tế đáng đau lòng là Việt Nam vốn có rất nhiều điều kiện và tiềm năng tốt để phát triển, thậm chí còn có thể được xếp vào hàng ngũ các cường quốc trên thế giới, nhờ vào nguồn nhân lực trẻ trung đông đảo (dân số sắp đạt 100 triệu), tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị thế địa chiến lược cực kỳ quan trọng mà không phải quốc gia châu Á nào cũng có được. Tuy nhiên, tại sao bao nhiêu năm nay đất nước ta vẫn không thể bật lên được, thậm chí còn có nguy cơ tụt lùi và ngày càng trở nên tệ hại? Hơn một thập niên qua, chúng ta đã phiêu lưu với rất nhiều dự án kinh tế lớn, do các tập đoàn quốc doanh như PVN, EVN, Vinacomin, … thực hiện, gây nhiều thua lỗ và tổn thất nghiêm trọng cho đất nước, trong khi lại quá lơ là với sứ mạng trồng người. Nền giáo dục Việt Nam, nhất là giáo dục đại học vốn đang bế tắc và lâm vào khủng hoảng, nhưng dường như các nhà làm chính sách và những bộ óc “hiện kế” đã không thể đưa ra các giải pháp phù hợp, mà trái lại còn đang tính tới phương án “tận thu”.

CTV Hải Đăng

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]

Share on Facebook!