Nguyễn Thị Kim Ngân » Bạn đọc » Khi dân biết làm tàu ngầm, máy bay

(Bạn đọc) - Sau một vài thành công được ghi nhận với dự án Trường Sa 1 và Hoàng Sa, doanh nhân Nguyễn Quốc Hòa lại cùng đội ngũ của mình bắt tay vào thiết kế, chế tạo tàu ngầm Trường Sa 2. Đây quả là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy người Việt cũng có tiềm năng sáng tạo kỹ thuật, và hoàn toàn làm được những điều tưởng chừng chỉ thấy ở các dân tộc lớn.

Tàu ngầm Trường Sa 1 do tư nhân chế tạo, mặc dù không thể phục vụ mục đích quốc phòng, nhưng cũng có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn.

Không chỉ riêng ông Hòa, kỹ sư Phan Bội Trân tại TP. Huế cũng là một tấm gương sáng, khi trở thành người Việt đầu tiên chế tạo và vận hành hệ thống tàu ngầm mini phục vụ du lịch, sau đó còn xuất khẩu theo đơn đặt hàng của đối tác Malaysia; Đáng chú ý, ông Trân còn là người được đào tạo bài bản tại trời Tây, mang quốc tịch Pháp và có kinh nghiệm làm việc nhiều năm ở cường quốc hàng đầu thế giới về khoa học kỹ thuật này. Trong lúc Việt Nam đang rất muốn mở rộng năng lực hàng hải và phát triển kinh tế biển, thì những thành quả của ông Trân hay ông Hòa thực sự là rất đáng quý, nên được hậu thuẫn để tiếp tục phát triển thành những “đế chế lớn”. Ngoài ra, điều đó cũng góp phần khẳng định, rằng nguồn lực trong dân, nhất là chất xám, còn rất lớn và chưa hề được khai thác hiệu quả.

Tất nhiên, để có những đánh giá chính xác về sự đột phá, tính ưu việt lẫn khả năng ứng dụng của những sáng tạo “tự phát” này, đội ngũ thẩm định cũng cần phải có đủ trình độ chuyên môn lẫn kinh nghiệm thực tiễn. Thứ nữa, công chúng, nhất là truyền thông báo chí, cũng cần hết sức tỉnh táo, tránh bốc đồng, ngộ nhận và tung hô một cách thái quá đối với những chủ đề mà mình chưa hoàn toàn hiểu rõ. Chẳng hạn, không ít lần chúng ta bắt gặp những tin bài theo kiểu “Hai học sinh lớp 11 điều chế thành công hợp chất có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư mạnh gấp 20 lần thuốc đặc trị”, hay “Kỹ sư hai lúa chế tạo máy bay” … rồi “Hai cha con nông dân miền Tây nâng cấp xe bọc thép, làm xe tăng cho quân đội Campuchia” – tự mày mò sáng chế là việc tốt, nhưng từ “làm cho vui” tới gây dựng cả một nền kỹ nghệ với khả năng thương mại hóa vẫn còn khoảng cách rất xa, đòi hỏi rất nhiều công sức, tiền bạc và hậu thuẫn.

Chúng ta cần tránh chạy theo thành tích và thổi phồng những sự kiện như thế này. Nghe thì hay nhưng hoàn toàn không có ý nghĩa đối với đất nước.

Nhìn chung, người Việt Nam có thể là đại diện của một dân tộc thông minh, hiếu học với những con người nhanh trí (theo kiểu giỏi tùy cơ ứng biến), song chúng ta chưa bao giờ mạnh về sáng tạo, nhất là trên những lĩnh vực mang tầm vóc lớn, cần thiết phải có nền tảng vững chắc. Chẳng hạn, dù được thừa hưởng những di sản công nghiệp không đến nỗi quá tệ hại từ thời thực dân, thậm chí còn tốt hơn nhiều nước trong khu vực, nhưng sau hơn 40 năm hòa bình, xứ sở này vẫn chưa thể hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, một phần cũng bởi tư duy “ăn xổi ở thì”, thích lớn nhanh như Thánh Gióng, bên cạnh sự bảo thủ trì trệ, cho nên các chính sách tới từ thượng tầng chính trị, thay vì hỗ trợ, thúc đẩy thì lại thường kìm hãm và triệt tiêu động lực phát triển.

Hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới đều đã từng phải trải qua giai đoạn kỹ nghệ hóa xứ sở – thiết lập nền tảng trên các lĩnh vực căn bản, đóng vai trò xương sống, như cơ khí (đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần 1), điện khí (CMCN lần 2), điện tử vi mạch (CMCN lần 3) … và hiện nay là CMCN 4.0 (xoay quanh công nghệ thông tin, tự động hóa, dữ liệu, y sinh, …). Tại châu Á, ngoại trừ Nhật Bản cũng chỉ có Hàn Quốc, Đài Loan và sau này là Trung Quốc (những nền kinh tế có quy mô dân số đông) là thực sự kỹ nghệ hóa thành công, nhất là trên lĩnh vực công nghiệp nặng (lưu ý rằng không nhiều nước trên thế giới chế tạo được động cơ ô tô, hay xây dựng “lò” đúc các chi tiết bán dẫn …). Hơi khác một chút so với trường hợp Trung Quốc (mọi công tác hoạch định đều thể hiện ý chí của Đảng Cộng sản), đặc điểm chung của những tổ hợp công nghiệp, kỹ nghệ khổng lồ tại Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan là chúng đều được sáng lập và điều hành bởi tư nhân (tức khối dân doanh); trong giai đoạn đầu, nhà nước thường chỉ đóng vai trò hỗ trợ về vốn, pháp lý, … còn lại hoàn toàn không can dự về sau, để các doanh nghiệp tự hoạt động và chịu trách nhiệm theo cơ chế thị trường tự do cạnh tranh. Ngay đến Trung Quốc, những động thái gần đây cho thấy họ đang hoàn thành nhiệm vụ thoái hết vốn nhà nước khỏi nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế và nhường sân chơi lại cho khối tư nhân.

Muốn đất nước trở nên thịnh vượng, bắt buộc phải công nghiệp hóa và kỹ nghệ hóa thành công, đặc biệt với những lĩnh vực nền tảng như cơ khí, năng lượng và điện tử.

Còn tại Việt Nam, sau nỗi thất vọng ê chề mang tên các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước – nhưng Chính phủ vẫn tỏ ra trì hoãn trong việc tái cấu trúc và thoái vốn, thời gian qua chúng ta cũng được chứng kiến sự lớn mạnh của những thương hiệu “tư nhân”, tiêu biểu như Vin Group (đa ngành, từ bất động sản lấn sân sang chế tạo sản xuất và khoa học công nghệ), THACO (ô tô) và Asanzo (điện tử gia dụng), … Cá nhân người viết tin rằng, nếu được trao cơ hội bằng cơ chế và chính sách cởi mở, lành mạnh, các tập đoàn trên hoàn toàn có khả năng vươn tới tầm cỡ thế giới; Thậm chí, nếu nhà nước học theo các quốc gia tiến bộ, mạnh dạn buông bỏ, không còn giữ độc quyền những lĩnh vực – vốn được xem là nhạy cảm, tối mật – như trang bị quốc phòng, viễn thông, năng lượng … thì những cá nhân xuất sắc như ông Phan Bội Trân, Lê Quốc Hòa sẽ có nhiều cơ hội hơn để thể hiện mình … và khi ấy chúng ta mới dám mơ tới những cột trụ vững chắc như Mitsubishi hay Kawasaki (Nhật Bản) – không chỉ đóng vai trò phát triển kinh tế, mà còn theo đuổi sứ mạng bảo vệ quốc gia nhờ nghiên cứu ra những sản phẩm kỹ thuật tân tiến nhất.

Hầu hết các tổ hợp lưỡng dụng quốc phòng – dân sự hàng đầu tại nhiều quốc gia phát triển đều là do tư nhân thành lập và điều hành. Trong hình là máy bay săn tàu ngầm P1 do Kawasaki (Nhật Bản) chế tạo. Hàn Quốc cũng đang đi theo mô hình của Nhật khi có những tên tuổi rất mạnh như Hanwha System.

Thời gian không còn nhiều, trước khi dân số Việt Nam trở nên già cỗi (khoảng 15 năm nữa), nếu chúng ta không biết quý trọng, tận dụng và phát huy hiệu quả nguồn lực trong dân chúng, nhất là trên các lĩnh vực kỹ nghệ, sáng chế … bên cạnh bẫy thu nhập trung bình gần như là điều hiển nhiên, chúng ta chắc chắn cũng chẳng thể nào thoát khỏi kiếp nhược tiểu, phụ thuộc và bị các đại cường chèn ép.

(Theo Bút Danh)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyenthikimngan.org

Share on Facebook!